Theo một số chuyên gia, ngành công nghiệp phụ trợ hàng không của Việt Nam vẫn còn đang chậm phát triển trong bối cảnh nhiều hãng hàng không Việt Nam đang tích cực mở rộng đội tàu bay của mình và nhiều cảng hàng không mới cũng đã được xây dựng.
Theo thống kê của Cục Hàng không Việt Nam, đội tàu bay đăng ký quốc tịch Việt Nam tính đến ngày 15/3 gồm có 222 tàu bay. Cùng với đó, Việt Nam cũng đang có 22 sân bay và theo quy hoạch sẽ tăng lên 30 vào năm 2030. Dù vậy trong khi các hãng hàng không Việt Nam tăng cường mua thêm tàu bay, họ lại thiếu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp phụ trợ hàng không như bảo dưỡng, sửa chữa, nghiên cứu, sản xuất chế tạo, phụ tùng, máy móc hỗ trợ và vẫn phải phụ thuộc nhiều vào nước ngoài.
Theo các chuyên gia của Hội Khoa học và công nghệ Hàng không Việt Nam (VASST), công nghiệp phụ trợ hàng không Việt Nam mới “phôi thai” và chưa có những sự phát triển đáng kể. Ngoài Công ty Kỹ thuật hàng không VAECO, Việt Nam hiện chỉ có 1 đơn vị tư nhân trong ngành này là Công ty Kỹ thuật Máy bay (AESC) chuyên bảo dưỡng và sửa chữa tàu bay.
Hiện tại, Việt Nam đang có rất ít sản phẩm được sản xuất trong nước để phục vụ cho ngành công nghiệp hàng không. Tất các phụ tùng của một chiếc tàu bay từ phanh cho đến lốp hiện nay đều phải nhập khẩu từ nước ngoài khi mà các doanh nghiệp trong nước đang chưa đủ trình độ kỹ thuật để sản xuất những phụ tùng này. Điều này khiến cho chi phí của các hãng hàng không bị đẩy lên khá cao. Ước tính chi phí thuê tàu bay, sửa chữa, bảo dưỡng tàu bay đang chiếm tới gần một nửa chi phí của các hãng hàng không trong nước. Họ hiện đang không thể thay đổi các chi phí này và phải chấp nhận theo mặt bằng chung của thế giới.
Nhiều chuyên gia của VASST đồng tình nhận định không thể tiếp tục chậm trễ trong việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ hàng không để ngành hàng không có thể phát triển bền vững. Không chỉ mang lại việc làm, điều này sẽ còn giúp cân đối sự phát triển không đồng bộ hiện nay của ngành.
Các chuyên gia của VAAST cho rằng Việt Nam sẽ cần có những cơ chế, chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia phát triển công nghiệp hỗ trợ hàng không. Cùng với đó, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là các kỹ sư cũng là điều mà Việt Nam cần làm sớm khi mà khoảng cách về nhu cầu và khả năng đáp ứng kỹ sư hàng không chuẩn quốc tế tại Việt Nam đang có khoảng cách đáng kể.
Theo TS Trần Thị Thái Bình, Trưởng bộ môn Kinh tế hàng không thuộc Học viện Hàng không Việt Nam, ngành hàng không Việt Nam hiện tại vẫn đang phụ thuộc vào nhân lực nước ngoài cho các vị trí kỹ thuật và quản lý quan trọng. Đây là lúc mà Việt Nam cần phát triển các chuyên gia có đủ khả năng dẫn dắt ngành này. Một phương án mà các hãng hàng không có thể tính tới là hợp tác để đưa chuyên gia nước ngoài về giảng dạy tại Việt Nam cũng như áp dụng các phương pháp thực hành quốc tế, qua đó giúp nguồn nhân lực của Việt Nam có thể tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến.